[Book Review] Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm – Kim Woo Choong

Giới thiệu

“Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” là hồi ký của Kim Woo Choong kể về những câu chuyện về cuộc đời ông và cách ông quản trị và lãnh đạo tập đoàn Daewoo từ ngày mới thành lập cho tới ngày nay. Qua cuốn sách ông muốn truyền cảm hứng cho người trẻ sống một cuộc sống phụng sự, dám ước mơ và làm việc hăng say để thực hiện ước mơ đó. Cùng với “Không gì là thất bại, tất cả là thử thách” của Chung Ju Yung, “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” của Kim Woo Choong là những cuốn sách kể về những thế hệ vàng son có công rất lớn trong việc xoay chuyển lịch sử Hàn Quốc.

Tóm tắt tiểu sử Kim Woo Choong

Kim Woo Choong sinh ngày 19-12-1936. Theo ngày sinh thì ông thuộc cung Nhân mã. Nhưng tôi nghĩ ông giống một người thuộc cung ma kết vì ông là một con người của công việc luôn coi công việc là đam mê của mình.

Ông là một thanh niên xuất chúng. Hồi nhỏ ông từng phải chịu cuộc sống cơ cực, một mình đi bán báo nuôi sống cả gia đình nhưng ông nỗ lực không ngừng theo học ngành kinh tế trường đại học Yonsei – Top 3 trường đại học nổi tiếng nhất của Hàn Quốc, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của giáo dục phương tây vì người sáng lập ra trường là giáo sĩ Underwood. Để rồi sau này trở thành một tượng đài doanh nhân vĩ đại.

Kim Woo Choong là nhà sáng lập viên và nguyên chủ tịch điều hành tập đoàn Daewoo của tập đoàn Daewoo. Daewoo trong tiếng Hàn có nghĩa là Đại Vũ – Cơn mưa lớn. Từ cái tên đã thấy tham vọng của Kim Woo Choong về thành lập một Doanh nghiệp có sức ảnh hưởng lớn, tưới mát những “mầm xanh” cho cả nền công nghiệp Hàn Quốc để tạo ra kỳ tích thay đổi toàn bộ bộ mặt nền kinh tế Hàn Quốc. Từ một công ty kinh doanh xưởng dệt nhỏ với vốn khởi điểm 5.000 USD, ông đã đưa Daewoo thành một trong những Chaebol có nền công nghiệp lớn mạnh nhất nhì Hàn Quốc, bước vào thời kì hoàng kim và nổi tiếng khắp thế giới.

Mặc dù có sự nghiệp vô cùng lừng lẫy, nhưng đoạn cuối trên con đường ông đi phải trải qua một thất bại vô cùng to lớn, cuốn phăng mọi nỗ lực và thành quả ông đã gây dựng. Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 – 1998 đã đưa Daewoo đứng trước nguy cơ phá sản kèm theo đó đưa Kim Woo Choong vào vòng lao lý đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến con đường chính trị của ông. Nhưng hình ảnh của ông vẫn luôn là huyền thoại, là người anh hùng của xứ sở Kim chi.

Bối cảnh cuốn sách “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm”

“Thế Giới Quả Là Rộng Lớn Và Có Rất Nhiều Việc Phải Làm” được xuất bản vào tháng 8 – 1989 tại Hàn Quốc và ngay sau đó ngay lập tức được thanh niên trên thế giới chào đón và trở thành “best seller” với hàng triệu bản được bán ra. Quyển sách như là sự định hướng, là kim chỉ nam mà ngài Kim Woo Choong muốn nhắn gửi đến thế hệ trẻ trên khắp thế giới.

Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm được viết vào những năm cuối của thập niên 80, khi mà nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu có những bước khởi sắc sau thời kì khốn khó những năm 60. Cuốn sách kể về giai đoạn khi mà đất nước Hàn Quốc còn nhiều khó khăn và thua kém các cường quốc khác trên thế giới, người Hàn Quốc bắt tay vào lao động và sáng tạo không ngừng nghỉ để biến một quốc gia nghèo khó trở thành một dân tộc hùng mạnh trên thế giới. Để có cái nhìn toàn cảnh về sự nỗ lực để làm nên điều kì diệu của con người Hàn Quốc, các bạn có thể đọc thêm bài Cô bán hàng mỹ phẩm ở Seoul của Tony Buổi sáng để biết được cách người Hàn quyết tâm vực dậy đất nước.

Trong bối cảnh lịch sử dần dịch chuyển về phương Tây và nhìn thấy trước cơ hội đó, Kim Woo Choong đã dành thời gian quý báu của ông viết nên cuốn sách chứa đựng biết bao tâm huyết, nhắn nhủ, kỳ vọng của ông cho thế hệ thanh niên Hàn Quốc – những thế hệ có vai trò quan trọng trong sự dịch chuyển lịch sử này. Cuốn sách gửi gắm thật nhiều bài học, về tinh thần trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân, về phát triển bản thân. Cuốn này thôi thúc những bạn trẻ biết sống hi sinh, không ngừng học hỏi, làm việc, không ngừng chia sẻ, và quan trọng nhất là muốn bắt tay ngay vào thay đổi thế giới vì thế giới này còn rất nhiều việc cần phải làm.

Tại sao nên đọc “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm”?

Bạn sẽ được truyền cảm hứng mãnh liệt để đặt những bước đi đầu tiên trên con đường sự nghiệp của mình ngay từ khi bạn mở cuốn sách ra và thấy câu nói “Lịch sử thuộc về người dám mơ ước”. Câu nói thể hiện tinh thần mạnh mẽ dám mơ ước, dám hy sinh cũng như cống hiến hết mình cho những giấc mơ, cho nhiệt huyết sống của tác giả.

Cuốn sách đánh thức những ước mơ, những đam mê ngủ quên của tuổi trẻ trỗi dậy. “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” là lời chia sẻ của Kim Woo Choong dựa trên những gì ông trải nghiệm, đúc kết được từ cuộc sống, kinh doanh và học tập từ thời Hàn Quốc còn đang trong cuộc nội chiến Nam Bắc Hàn đến khi xã hội Hàn Quốc giàu mạnh, thịnh vượng và phát triển như hôm nay. Từ đó ông rút ra các bài học tâm đắc về giáo dục, về chân lý kinh doanh, về mối quan hệ giữa người với người để đưa ra những lời khuyên thiết thực cho thế hệ trẻ tiếp bước con đường mà các bậc đi trước như ông đã gây dựng để xây dựng một xã hội Hàn Quốc giàu mạnh. Câu chuyện của tác giả với hơi hướng tinh thần của một doanh nhân lừng lẫy sẽ tiếp thêm động lực cho chúng ta biến ước mơ thành hiện thực. Đối với những ai còn sợ hãi bước ra vùng an toàn của mình, đối với những ai lựa chọn cuộc sống an toàn ổn định thay vì dấn thân trải nghiệm khám phá thì nên đọc cuốn sách này. Một lần thôi, một lần duy nhất trong đời hãy thử làm khác đi, thay đổi bản thân, vận dụng hết các nguồn lực của mình để vượt lên, chiến thắng chính sự nhút nhát và yếu kém trong bản thân mình. Đây là một cuốn sách vô cùng giá trị, nhất là đối với những người trẻ có khao khát phát triển bản thân, biết sống và hi sinh vì mọi người. Cuốn sách chứa đựng những triết lý sâu sa về cuộc sống và các tác giả giải quyết vấn đề, xoay chuyển thế cục vô cùng tài tình và thông minh.

Cuốn sách cho ta thấy tuổi trẻ là một tài sản quý báu nhất cuộc đời. Bởi vì tuổi trẻ là tài sản quý giá nhất của cuộc đời mỗi con người. Không phải là bây giờ thì là bao giờ. Chúng ta có sức khỏe để làm thật nhiều việc, có thời gian để phạm sai lầm, làm bất cứ những điều gì mình mơ ước. Vậy nên đừng hoài phí những ngày tháng tuổi trẻ, đừng mãi sống an toàn, sống an nhàn và tự thõa mãn với những gì đang diễn ra đều đều hằng ngày của mình. Hãy lao ra cuộc đời, sống cuộc sống có ý nghĩa cho bản thân, cho gia đình, và đất nước bởi “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm. Hồi trẻ, Kim Woo Choong có hoàn cảnh gia đình khó khăn nghèo khó nhưng không vì thế mà ngăn cản ông ngừng mơ ước và ông đã xây dựng Tập Đoàn Daewoo hùng mạnh bằng chính sự nỗ lực không mệt mỏi chinh phục thành công của mình. Tuổi trẻ đúng là vô giá và ngẫm rằng phải sống cho đáng sống,đáng những năm tháng tuổi trẻ với ước mơ vẫy vùng Biển Lớn.

Ông truyền tải cho người đọc những lời khuyên về đam mê làm việc, cách sống hy sinh, phụng sự cho người khác, không ngừng học hỏi và mở rộng kiến thức thông qua việc du lịch, đọc sách, học hỏi từ những người tài giỏi qua những bài học quý giá từ chính những trải nghiệm và cuộc đời đầy những bước thăng trầm của ông. Chung ta cần đọc để hiểu tại sao những con người Hàn Quốc, xuất phát điểm cũng như Việt Nam thôi mà họ lại phát triển vượt bậc đến vậy vì bối cảnh của Hàn Quốc lúc bấy giờ có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam hiện nay. Đấy chính là nhờ tinh thần, cảm hứng mạnh mẽ từ những con người như nhà sáng lập Daewoo, Kim Woo Chung. Những bài học, kinh nghiệm lời khuyên của tác giả về nghị lực phi thường vượt qua nghịch cảnh khó khăn, nghèo đói, thiếu thốn mãi là những bài học quý giá cho thế hệ trẻ mai sau.

Chúng ta cần làm gì để vươn ra biển lớn?

Nổi bật trong cuốn sách là ba bài học ông đúc rút được và muốn gửi gắm đước người trẻ. Thứ nhất là dám ước mơ và tư duy đổi mới sáng tạo và kĩ năng giải quyết vấn đề xuất chúng. “Lịch sử thuộc về những người dám mơ ước. “Những tinh thần sáng tạo dẫn dắt lịch sử tiến lên”. “Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” khắc họa bức tranh về những người Hàn Quốc nỗ lực bằng cả sinh mạnh để làm thế giới thay đổi cách nhìn về đất nước ở bán đảo Triều Tiên bé nhỏ này bằng tinh thần dân tộc và khát khao đổi mới, sáng tạo. Tư duy đổi mới, sáng tạo chính là then chốt làm nên điều kỳ diệu và đột phát trong đổi mới và cải cách kinh tế xã hội. Điều mà mình ấn tượng trong cuốn sách và muốn học hỏi nhiều nhất còn là cách giải quyết vấn đề vô cùng xuất sắc của Kim Woo Choong. Với khả năng thiên bẩm về tầm nhìn, ông mua lại những doanh nghiệp đang bên bờ vực phá sản và khiến nó trở nên sinh lời trong thời gian rất ngắn. Đó là chuyện không phải ai cũng DÁM LÀM và LÀM ĐƯỢC. Sau khi mua lại Công ty Cơ khí Hàn Quốc, vốn đang trên bờ vực phá sản do làm ăn thua lỗ triền miên, ông đã làm một việc mà ai cũng nghĩ là điên rồ, đầu tư 3 tỷ won để xây dựng cơ sở hạ tầng và chính sách phúc lợi cho đội ngũ nhân viên. Trong khi tổng số vốn của Công ty Cơ khí Hàn Quốc lúc đó chỉ hơn 6 tỷ won. Chính nước đi này của ông Kim đã khích lệ tinh thần của toàn bộ đội ngũ nhân viên công ty, vốn khi đó đã hoàn toàn rệu rã. Và chỉ sau vài năm, công ty đã vực dậy như một phép màu. Điều này cũng là một trong những triết lý lãnh đạo của ông Kim.

Thứ hai là lời khuyên về sự hy sinh và phụng sự. Xuyên suốt cuốn sách ta có thể thấy được tinh thần “phụng sự” theo đúng giáo lý Thiên Chúa Giáo của ông Kim Woo Choong, vốn ảnh hưởng sâu sắc từ mẹ ông, một con chiên ngoan đạo. Tuổi thơ cơ cực gắn liền với cuộc chiến tranh Nam Bắc Hàn đã rèn luyện cho ông những khả năng về sinh tồn và tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt nhất ngay từ lúc bé. Tuổi trẻ chính là thời điểm tốt nhất để thực hiện sứ mệnh của mình một cách triệt để. Bằng cách đó sẽ là nền tảng vững chắc cho các thế hệ đi sau tiến lên, khiến cho toàn bộ dân tộc tiến lên.

Thứ ba là mối quan hệ giữa con người với con người. Không ai có thể tồn tại đơn độc trong xã hội này. Và cùng với sự phát triển của công nghệ xoá bỏ mọi khoảng cách, thế giới ngày một phẳng và con người có thể dễ dàng giao tiếp, kết nối với nhau.Chữ tín, sự trung thực và khiêm tốn là những điều kiện tiên quyết nếu thế hệ thanh niên muốn hoà nhập với thế giới.

Thứ tư là triết lý về kiếm tiền và tiêu tiền. Quan điểm chính của ông về tiền là mỗi người chỉ nên làm đúng vị trí của mình, người kiếm tiền sẽ tập trung kiếm tiền và người tiêu tiền sẽ tiêu tiền cho người khác một cách hiệu quả nhất. Tiều tiền ở đây không phải là tiêu xài hoang phí, mà là dùng tiền kiếm được để chi cho sự phát triển của đất nước Đại Hàn Dân Quốc. Ông dùng gần như toàn bộ tài sản của mình để lập ra những quỹ khuyến khích về nghiên cứu khoa học cơ bản, văn học – báo chí, y tế.

Điều ấn tượng mình nhất ở cuốn này chính là nguồn cảm hứng bất tận dành cho công việc mà ông Kim Woo Choong đã tuôn trào qua từng trang viết. Cuốn sách đã truyền cho tôi nhiệt huyết, niềm đam mê và cả những suy nghĩ rất chất vào việc cần bắt tay làm một điều gì đó. Tuy nhiên, có lẽ mỗi thời mỗi khác nên quan điểm sống hết mình, ưu tiên với công việc mà quên mất gia đình, sở thích mình thấy không còn phù hợp. Chúng ta cần phải biết cân bằng giữa đam mê làm việc – cống hiến và tận hưởng cuộc sống, quan tâm tới các mối quan hệ xung quanh thì cuộc sống mới đủ đầy và trọn vẹn.

The Book Lovers

 

 

 

 

[Book Review] Seoul đến và yêu – Quỳnh in Seoul

Mình vừa đọc xong cuốn sách “Ăn, cầu nguyện và yêu”, một cuốn sách truyền cảm hứng mãnh liệt, chạm tới tận những ngóc ngách trong sâu thẳm mình về định hướng sống và trải nghiệm cuộc sống. Cuốn này mình sẽ review cho mọi người sớm sau khi mà mình thấm, thấu và chiêm nghiệm hết nó trong cuộc sống của mình. Thế nên khi mình đọc được dòng giới thiệu “Một cuốn sách du ký chắc chắn sẽ khiến cảm hứng Đi, Chơi và Yêu của bạn tăng vọt” của cuốn Seoul Đến Và Yêu, mình đã không chần chừ khi mua cuốn sách này về vì theo mình nghĩ mỗi người trong cuộc sống nên tập trung vào ba điều quan trọng để trải nghiệm và sống hết mình với những gì mình yêu thích.

Seoul đến và yêu

“Seoul Đến và yêu” không chỉ là một cuốn guidebook về du lịch, trải nghiệm cuộc sống ở Hàn Quốc mà còn đan xen những câu chuyện, bất mí thú vị, cảm quan riêng về Seoul của tác giả Quỳnh in Seoul. Đây là một cuốn sách rất hữu ích cho những ai có hứng thú với nền văn hóa cũng như phong tục của Hàn Quốc và ước mơ được một lần đặt chân đến đất nước xinh đẹp này.

Cuốn sách như một kim chỉ nam, một cẩm nang hướng dẫn đầy đủ và ngắn gọn tất cả những gì chúng cần chuẩn bị khi tới Seoul, từ khi còn hồi hộp lên kế hoạch cho chuyến đi, làm visa, book vé máy bay, book phòng, lên plan du lịch cho khi đến Seoul ăn gì, chơi gì, đi đâu, trải nghiệm gì mang đậm chất Hàn cho đến khi chia tay “Anh bạn mắt híp” này ra về. Một số sách cẩm nang du lịch theo mình mà nói thì chỉ đơn thuần truyền tải cho người đọc những lời giới thiệu, cung cấp thông tin và recommend địa điểm nổi tiếng và những hoạt động làm trải nghiệm khi tới địa điểm đó. Nhưng, đối với Seoul đến và yêu lại hoàn toàn khác với một quyển sách thông thường. Đọc Seoul đến và yêu, chúng ta không chỉ cảm nhận được văn hóa, cuộc sống mang âm hưởng đậm chất Seoul. Bên cạnh đó, bạn còn được Quỳnh chia sẻ lần lạc đầu tiên, lần hẹn hò đầu tiên ở Sông Hàn; các nét văn hóa đậm chất Hàn Quốc như nhà tắm hơi, canh tương đậu. nghệ thuật trà cổ; cách yêu của người Hàn mang đặc trưng như thế nào. Bản thân mình rất thích đất nước Hàn Quốc, yêu thích tìm hiểu về văn hóa, con người Hàn vì một thời gian hồi cấp 3 mình cũng mê mệt phim Hàn và các anh Super Juniors, hiện mình cũng đang học tiếng Hàn và làm cho công ty Hàn nữa và rất may mắn là mình có 10 ngày trải nghiệm ở Hàn mùa hè vừa rồi, nên đọc cuốn sách này giống như tô vẽ lại cho mình những kí ức hạnh phúc, tĩnh lặng và sâu lắng trong thời gian mình tới Hàn Quốc vậy. Với cuốn sách này, mình kì vọng ở nữa nhiều chia sẻ thú vị và độc đáo hơn về Seoul.

Korea 2

Cầm trên tay Seoul đến và yêu cảm giác như nắm cả Seoul trong lòng bàn tay. Từng địa điểm, món ăn, phong tục được Quỳnh mô tả vô cùng chi tiết và mang đậu dấu ấn trải nghiệm cá nhân theo cách của người bản địa. Với từ ngữ ngắn gọn, dễ hiểu cộng thêm những hình ảnh cũng như những câu chuyện do chính tác giả tự chụp và cảm nhận trong 7 năm sinh sống ở Hàn Quốc từ khi còn là nữ sinh trung học cho đến khi là sinh viên, cuốn sách sẽ góp phần mang đến những góc nhìn mới, tổng quan hơn, hấp dẫn hơn về một đất nước muôn màu muôn vẻ. Các chủ đề cũng được tác giả chia thành từng khu vực (area) theo từng mục đích du lịch khác nhau của mỗi người, từ đồ ăn nên thử, cách di chuyển bằng tàu điện xe bus, đến những bật mí về tập tục của Hàn sẽ khiến bạn phải há mồm kinh ngạc và không chần chừ sắp xếp ngay đồ đạc để lên đường luôn. Tác giả dẫn dắt cuốn sách theo cách di chuyển khi đến Seoul từ Việt Nam nên người đọc có cảm giác mình đang được sách balo lên và đi vậy. Từ lúc ở Việt Nam lên máy bay, cho đến khi tới sân bay Incheon di chuyển vào trung tâm như thế nào và trong thời gian ở đây di chuyển tới các địa điểm tham quan theo tuyến tàu điện ngầm cho hợp lí và tiết kiệm thời gian nhất.  Các địa chỉ ăn chơi, mua sắm, tham quan được Quỳnh hướng dẫn vô cùng chi tiết, kèm theo là những câu chuyện nho nhỏ về cuộc sống và văn hóa Hàn Quốc.

Các địa điểm nhất định phải đến ở Seoul được sắp xếp dựa theo tiêu chí ưu tiên về địa điểm, mức độ nổi tiếng và ảnh hưởng trong đời sống văn hóa Hàn Quốc, danh sách này cũng giúp các bạn tự sắp xếp và vạch ra lịch trình du lịch dễ dàng hơn rất nhiều. Trong 13 area trong sách, mình mới đặt chân đến are 1,2,3,4,7 và còn đến tận 8 area nữa mình chưa được trải nghiệm nên mình rất muốn quay lại Seoul nhiều lần nữa. Các bạn cùng du lịch Seoul và Hàn Quốc qua ảnh cùng với mình để xem mình đã có 10 ngày tuyệt vời ở đây như thế nào và mình đã đi qua những area nào nhé.

#Area 1: Myeongdong – Namsan Tower

“Nếu bạn là một tín đồ thời trang và luôn “ngập ngụa” trong tình yêu với quần áo, váy vóc, túi xách, giày dép, phụ kiện… thì chắc hẳn “Myeongdong” là nơi nhất thiết không thể bỏ qua. Đây là khu vực vô cùng nổi tiếng đối với người yêu thời trang châu Á, đặc biệt là phụ nữ”. Ở Myeongdong bạt ngàn các hãng mỹ phẩm nổi tiếng của Hàn. Cả một con phố trải dài chỉ cách nhau 5-10m là có một cửa hãng mỹ phẩm từ innisfree, natural republic, skinfood, laneign, etude house… hay các đồ hiệu giá cả phải chăng như zara, h&m, uniqulo… Đối với những người yêu và đam mê mỹ phẩm thì đến đây đúng là không có lối về. 

Korea 11

“Nếu chịu khó đi bộ lên đây, bạn sẽ được cả một ngọn núi hoa anh đào ôm trạo vào lòng vào mùa xuân, hay cả một rừng lá vàng lá đỏ rải thảm trên từng bước bạn đi vào mùa thu, lấp lánh ánh nắng vàng dưới bầu trời xanh cao vút… Móc khóa tính yêu trên thành cầu tháp, hi vọng tình yêu lúc đó sẽ đi mãi đến cuối cuộc đời… Thời khắc đẹp nhất của Namsan là hoàng hôn, vì khi đó bạn sẽ được nhìn ngắm Seoul dần lên đèn và những cặp đôi e thẹn trao nhau một cái hôn má. Đó là cảnh tượng vừa hùng vĩ, lại vừng lạ lùng và thơ mộng mà bạn hiếm khi thấy được.”

Korea 13

#Area 2: Ewha – Sichon (Yonsei Universtiy)

Trường đại học Yonsei nằm trong top 3 trường đại học của Hàn Quốc và được thành lập bởi giáo sĩ Underwood khi đến Hàn Quốc truyền đạo vào thế kỉ 20. Ngôi trường đẹp một cách lãng mạn với rất nhiều cây cối và kiến trúc theo lối phương Tây. Được học tập và trải nghiệm môi trường ở đây thật là một điều tuyệt vời quá sức tưởng tượng.

Korea 6

Korea 5
“Một góc phố Sichon”

#Area 3 *** Insadong – Samcheomdong

“Nếu bạn mơ ước trở thành một chủ tiệm cà phê bánh độc đáo hoặc đang tìm kiếm một địa điểm hẹn hò lãng mạn như các cặp đôi Hàn Quốc, hay bạn là một nghệ sĩ trên đường khám phá các nguồn cảm hứng mới thì Samcheongdong đang đợi bạn… Vào mùa thu, hai hàng rẻ quạt rụng  lá vàng ngập lối nhỏ, tạo thành một bức tranh đẹp không lời nào tả xiết…”

Korea 10

#Area 4 *** Gyeongbukgung

“Khi mùa xuân sang, cả trời rợp hoa anh đào bay trong gió, đậu lên mái tóc tết của các thiếu nữ mặc hanbok, bạn sẽ cảm nhận được một không khí cổ kính đầy thơ mộng. Nhìn những tán anh đào rủ trên mặt hồ trong cung, hiếm có người nào không xiêu lòng được… Đón từng ánh bình minh và từng hạt tuyết đầu mùa, cứ như đắm mình trong vẻ đẹp Hàn cổ thời Joseon vậy”

Korea 3

*** Một vòng ẩm thực Seoul

Người Hàn Quốc thật sự ăn rất nhiều. Đấy là lí do tại sao họ có nhiều năng lượng để làm việc đến vậy. Đợt mình đến Hàn Quốc, câu nói trước bữa ăn của người Hàn là ăn nhiều vào nhé chứ không phải chúc ngon miêng. Do bị ảnh hưởng của chiến tranh, cách đây 60 năm người Hàn Quốc rất nghèo và không có gì để ăn, nên họ luôn mang muốn con cháu mình được ăn nhiều và no đủ. Ngoài các bữa ăn chính, chúng mình cũng được cho ăn rất nhiều kem, hoa quả, bánh kẹo, uống cafe trong các bữa ăn phụ nên có thể nói chuyến đi Hàn Quốc của mình giống như một tour ẩm thực vậy. Mình được ăn hầu hết các món ăn nổi tiếng của Hàn Quốc như gà tần sâm, thịt nướng, canh xương bò, mỳ đen chachangmyeon, cơm trộn bibimbap, tobokki, manduk-guk, kimbap, canh đậu tương, kimchi, gà rán, bingsu…

Korea 9

Korea 8

Korea 7

Ngoài Seoul, mình còn được đi đảo Nami và biển Gyeongpo nữa. Đây là lần đầu tiên mình được đến nơi đã từng quay bộ phim “Bản tình ca mùa đông”. Nơi đây thật sự rất lãng mạn, tràn ngập trong cây cỏ, hoa lá và gió thổi em dịu bay hết mọi mệt mỏi muộn phiền.

Korea 1

Korea 12

Trong cảm quan của mình, Seoul giống như một nơi chúng ta đến trị liệu, hàn gắn và làm mới lại cho những tâm hồn từng bị tổn thương và đau khổ vậy. Những cảnh đẹp đến nao lòng, những phố mua sắm quần áo mỹ phẩm cực kì rẻ, những món ăn bổ dưỡng đầy đặn, những con người nhiệt tình, nồng hậu… thật sự là những liều thuốc vô cùng tốt để chữa lành đi hết những vết thương lòng.

Câu khẩu hiệu trong văn hóa du lịch Hàn Quốc năm nay là “I Seoul You”. Trong chữ Seoul bỏ chữ e đi sẽ trở thành chữ Soul do vậy câu này còn có nghĩa là “I Soul You” – Anh Soul Em – Anh nhìn thấy, cảm nhận tâm hồn của Em. Do vậy cuốn sách Seoul Đến Và Yêu có thể đổi thành Soul Đến Và Yêu – Đọc cuốn sách này để chúng ta hiểu thành phố Seoul từ trong tận ngóc ngách tâm hồn, từ nét hoang sơ chân thật vốn có nhất của một thành phố lãng mạn đầy hoa và thơ.

Reading X Book Review|The great Gatsby – F.Scott Fitzgerald

Thật sự sau khi đọc xong “The Great Gatsby” tôi rất muốn viết một review thực sự tâm huyết của bản thân mình vì tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp văn chương, cốt chuyện hấp dẫn và những bài học nhân sinh sâu sắc đến ám ảnh của cuốn tiếu thuyết hay nhất mọi thời đại này.

Nhưng sau khi đọc xong review của anh Mr.Clown[D] bên Readingcafe tôi cảm thấy review này như muốn nói hộ nỗi lòng mình nhưng có mạch viết tốt đến mức dù mình có cố gắng đến mấy cũng chưa chắc đạt đến lối viết logic và cuốn hút đến vậy. Nên bên cạnh viết review Xcủa riêng mình, tôi sẽ đăng lại review do anh Clown viết vì tôi quá tâm đắc và thích review này quá đỗi. Cảm giác sau khi đọc xong, những dấu hỏi chấm to đùng, những ám ảnh của tôi từ tác phẩm gần như đã được giải tỏa.

~oOo~

Tôi thực sự nghĩ rằng mình rất có duyên phận với The great Gatsby”, mà theo thiển ý cá nhân tôi vẫn thích cách dịch là “Gatsby vĩ đại” hơn là “Đại gia Gatsby”. Tôi biết đến “Gatsby vĩ đại” một cách hoàn toàn tình cờ khi nó được nhắc đến chung với “The catcher in the rye” của J.D. Salinger trong quyển “Rừng Nauy” của Haruki Murakami. Tuy nhiên, sau nhiều lần bỏ cuộc chỉ sau dăm trang do không quen cách viết của F.Scott Fitzgerald và sự nông cạn của tuổi trẻ, tôi mới thật sự đọc Gatsby một cách nghiêm túc. Và lí do tôi nói rằng tôi có duyên phận với Gatsby là vì ngay sau khi đọc xong, tôi lập tức xem được bộ phim cùng tên. Và cũng phải nói thêm rằng, bản dịch của Trịnh Lữ cũng không mấy làm tôi hài lòng.

Nhắm mắt lại, lật trang sách, để trí tưởng tượng thăng hoa. Tôi khuyên bạn hãy đọc sách trước khi xem phim để thấm cái sự tưởng tượng điên cuồng hỗn loạn và vùn vụt như gió lốc trước khi bị kiềm hãm vào trí tưởng tượng của người tạo ra khuôn mẫu cho một tác phẩm nghệ thuật. Đó là một thế giới khác, một thế giới khác biệt đến mức bạn có thể thốt lên bàng hoàng không thể tin được rằng mới chỉ gần 1 thế kỉ trước thôi, đã từng có một thế giới như vậy. Đó là “Thời đại Hoàng Kim”, “Thời đại Jazz” của đất nước Mỹ – cái thời đại rực rỡ lộng lẫy không thể tưởng được, nơi đã sản sinh ra một Scott Fitzgerald tài năng viết ra một Gatsby vĩ đại. Năm 1920, sau sự hỗn loạn của thế giới khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1914-1918), đất Mỹ đã bước vào một thời đại thăng hoa của nền kinh tế khi làm chủ nợ bao quốc gia tham dự chiến tranh thế giới thứ nhất – phố Wall phồn hoa với sự phát triển vượt bậc như vũ bão của cổ phiếu và ngành tài chính; nền công nghiệp phát triển rực rỡ. Điều tất yếu đi cùng với sự thăng hoa vượt bậc trong của cải là đạo đức suy đồi trầm trọng, và như một cách gượng ép đưa đạo đức về chỗ nó vốn nên đứng, chính phủ Mỹ đưa ra luật cấm bán, cấm tiêu thụ rượu – điều đã khiến ngành tội phạm buôn hàng lậu theo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Mở đầu câu chuyện là lời kể của Carraway – một thanh niên từng bỏ qua tài năng viết lách của mình để chạy đến New York theo đuổi hoài bão làm giàu từ cổ phiếu và chứng khoán như bao kẻ tham vọng tài phú khác. Một ngày đẹp trời, chàng đến thăm người chị họ Daisy xinh đẹp của mình – một người phụ nữ xuất thân từ lụa là gấm vóc và có một ông chồng giàu nứt đố đổ vách. Nhưng đằng sau hào quang của cải là cuộc sống không hạnh phúc – chồng của Daisy vụng trộm bên ngoài với một người đàn bà lẳng lơ – vợ của một gã sửa xe nghèo túng dưới đáy cùng xã hội. Sau cuộc gặp gỡ Daisy với người bạn xinh đẹp của người chị, Nick Carraway lại thêm tình cờ khi gặp một “đại gia” bí ẩn là Gatsby – một đại gia giàu không thể tưởng tượng nổi sống ngay cạnh nhà. Bi kịch bắt đầu từ đó.

Nhân vật chính của tập truyện chẳng lấy gì là dày của Scott Fitzgerald tất nhiên là vị đại gia bí ẩn Gatsby – vị đại gia giàu có tột bậc sống cạnh nhà Nick Carraway. Điều tôi cảm thấy thích thú nhất bên trong Gatsby chính là sự mâu thuẫn trong chính nhân cách và tư tưởng của nhân vật. Mặt ngoài, Gatsby có thể nói là một kẻ ăn chơi trác táng không thiếu tiền bạc, đắm mình trong của cải, chơi bời và sự đồi trụy hoang lạc thượng lưu nhưng cũng tầm thường. Chính thông qua nhân vật này, Scott Fitzgerald đã thể hiện sự tài tình trong việc nắm bắt tâm lý số đông đang chạy theo “Giấc mơ Mỹ” về của cải vật chất; những ám ảnh thường trực về danh tiếng và sự thành đạt; sự tôn sùng của cải và quyền lực. Nhưng lồng trong những phù hoa phiếm tình, trong những cuộc chơi thâu đêm suốt sáng rực rỡ ánh đèn, những chai rượu vốn bị cấm mà được tiêu thụ công khai; những điệu nhảy triền miên rực rỡ cuồng loạn và buông thả của những người tưởng chừng đã đạt đến ngưỡng của danh vọng và tiếng tăm thời đó, đó là sự suy thoái nặng nề của đạo đức và lý trí. Cái bộ phận phất lên nhanh chóng và mang trên mình cái mác thượng lưu thời đó chỉ tối ngày trẫm mình trong những trò mua vui vô bổ vô nghĩa, khoa trương và phù phiếm. Và đứng đầu, đại diện cho tất cả những thứ trụy lạc hào nhoáng đó, đại gia Gatsby mỗi ngày mỗi đêm tổ chức tiệc tùng cuồng dã hoan lạc. Để làm gì?

Nhìn sâu vào trong cái sự giàu có ảo mộng của vị đại gia đó, cái người ta cảm nhận được là sức sống và niềm tin mãnh liệt cháy bỏng – thứ ảo vọng  cũng là sức mạnh của những con người đang theo đuổi giấc mơ Mỹ ở chốn phù hoa. Phải mang trong mình thứ niềm tin siêu cường thế nào mới có thể bước đến được đỉnh cao của danh vọng phú quý đến như thế? Phải có động lực nào mới nâng đỡ được tinh thần cường liệt bất chấp của một đứa trẻ như Gatsby – James Gatz – đi lên từ đáy cùng nghèo tận của xã hội bước lên cầu thang của lâu đài Salomon? Đó chính là tình yêu – một tình yêu chân thành, cuồng nhiệt đến mức mù quáng. Chính tình yêu với con gái một nhà quý tộc, nay đã là vợ một kẻ thượng lưu phô trương vô nghĩa khác, đã giúp chàng chiến binh nghèo khó Gatsby sau khi trở về từ chiến tranh khốc liệt lao vào bóng tối tội lỗi phạm pháp để kiếm tiền, quyết tâm đoạt về người con gái chàng yêu say đắm ngày xưa.

Daisy, người đàn bà xinh đẹp thượng lưu chính là “ánh sáng xanh” của đời Gatsby. Nàng chính là ảo vọng, là giấc mơ, là niềm khao khát xa vời vốn khó có thể nắm lấy được của Gatsby. “ Gatsby đã tin vào đốm sáng xanh ấy, vào cái tương lai mê đắm đến cực điểm đang rời xa trước mắt chúng ta năm này qua năm khác. Ừ thì nó đã tuột khỏi tay chúng ta, nhưng có làm sao đâu – ngày mai chúng ta sẽ lại chạy nhanh hơn, vươn tay ra xa hơn….”.

Chính nhờ vào niềm tin giấc mơ mờ ảo, “đốm sáng xanh” mỗi đêm chiếu bên cầu cảng nhà Daisy mà Gatsby đã đẩy mình vào một thứ tình yêu không lối thoát, một thứ tình yêu hết sức ngọt ngào cũng vô vàn cay đắng. Chàng tin vào cái tương lai mờ nhạt đang rời xa chàng như chính Daisy. Dường như trong Gatsby có thứ ánh sáng gì đó không thể vụt tắt, thứ ánh sáng kiềm hãm chàng trong những mộng tưởng khát khao của quá khứ cuồng nhiệt, thứ ánh sáng của niềm tin, hi vọng và tình yêu giúp chàng vươn tay đến tương lai phú quý hòng cướp lại người yêu thương. Đó cũng là thứ ánh sáng vô nghĩa của hiện tại – thứ ánh sáng của phù phiếm hào hoa chàng đang theo đuổi – cái đốm sáng xanh ở ngay trước mặt nhưng không thể bắt được, cũng như nàng Daisy. Và đó còn là đốm sáng của tương lai, của hi vọng và của giấc mơ…

Chính điều này khiến Gatsby trở nên hoàn toàn khác biệt với bất kì người nào trên cái đất phù hoa đó, nhưng cũng giống bất cứ kẻ nào đang muốn đạt được giấc mơ Mỹ tiến chân vaò thế gới thượng lưu: Đó chính là khát khao, hi vọng, quyết tâm, đem trong mình lý tưởng, giấc mơ và tình yêu của đời mình. Nhưng thật đáng thương thay cho Gatsby si tình, nàng Daisy của chàng mặc dù cũng yêu chàng tha thiết, nhưng tình yêu của người đàn bà phù phiếm trống rỗng đó chưa đủ để đến được với Gatsby. Trong danh sách dài những thứ chàng không hề hứng thú: những bữa tiệc xa hoa, những tấn áo cao cấp không mặc kịp, hàng nghìn cuốn sách chưa từng đụng đến,….đều chỉ để thu hút sự chú ý của người con gái đó thôi ư? Hay là Gatsby muốn tìm lại cho mình cái say đắm khát khao của một Gatsby ngày xưa, một Gatsby chưa có gì cả nhưng nỗ lực hết mình vì có một mục tiêu, một “đốm sáng xanh” rõ ràng sáng chói, chứ không phải cái “đốm sáng xanh” cầu cảng nhà Daisy mỗi ngày một mờ đi qua kẽ tay của chàng?

Một Gatsby chỉ nhìn thấy Daisy cũng là một Gatsby đang tuyệt vọng nắm được chút hi vọng bé nhỏ rồi lại rơi vào tuyệt vọng. Gatsby sau khi có được mọi thứ đang chán chường nên chàng cần phải đi tìm thấy điều gì đó của đời mình, điều mà chàng có thể nắm được, có thể sở hữu cả cuộc đời, và điều gatsby đang tìm chính là tình yêu thuần khiết ngày trước. “  Gatsby đại diện cho tình yêu lý tưởng. Nói vậy không có nghĩa anh ta là một người đáng mến, bởi vẫn có rất nhiều những khía cạnh rất tối tăm trong nội tâm của Gatsby. Ý tôi là anh ấy đại diện cho định nghĩa thuần túy nhất của cụm từ này với những gì anh sẵn sàng làm vì tình yêu.”

Gatsby còn “Vĩ đại” là vì là đại diện của mộng tưởng không thể thực hiện được nhưng không bao giờ ngừng tin tưởng. Ngay cả khi bản thân Gatsby biết mọi chuyện đã kết thúc sau cuộc cãi nhau mặt đối mặt với người chồng phù phiếm giả tạo của Daisy, Gatsby vẫn không bao giờ ngừng tin tưởng về điều chàng đã liên tục theo đuổi. Gatsby vừa là nạn nhân của chính bản thân mình và của những định kiến lệch lạc của xã hội; vừa là một trò hề thừa tiền lắm của để thiên hạ mua vui trong lúc giàu sang thừa thãi; nhưng cũng là một anh hùng “vĩ đại” khi đắm chìm trong trống rỗng lại có một mục đích thuần khiết kiên định và không bao giờ bỏ cuộc.

Thế nhưng, cuộc vui nào cũng phải tàn, lên đến đỉnh cao ắt phải tụt xuống. Thảm trạng của Gatsby như một lời cảnh cáo chua cay của Scott Fitzgerald đến với những giấc mơ Mỹ vụt sáng quá nhanh: nếu phát triệt cường thịnh quá mãnh liệt thì khi ngã lại càng đau đớn. Quả là đến 1929, Thời Đại đen tối ụp xuống nước Mỹ những quả tạ nặng hơn chì. Cũng giống như Gatzby, cường đại giàu có quá nhanh nhưng biến mất như điện xẹt, để lại cho đời những lời phỉ báng, những buổi bàn tán cay nghiệt nhục nhã, để lại cho đời những ảo vọng tầm thường đáng khinh miệt. Chỉ người bạn duy nhất của Gatzby là Carraway mới biết được toàn bộ sự thật thân thế của kẻ đáng thương kia. Rốt cuộc, Gatzby cũng chỉ là một người khốn khổ tự đẩy mình vào đường cùng của tình yêu và tuyệt vọng.

Chỉ khi Gatsby chết đi, sự thật về sự tồn tại của Gatsby mới thực sự là một bài học đáng giá: đó là sự cô đơn của con người. Dù là ở thời đại Hoàng Kim của nước Mỹ hay ở bất cứ thời đại nào đi chăng nữa, con người phải chăng vẫn luôn cô đơn? Dù có để lại mạt kỉ ức nào cho cuộc đời, rốt cuộc vẫn là sự cô đơn dai dẳng. Sau khi cả cái xã hội phù phiếm đó lợi dụng chàng, và thậm chí cả nàng Daisy xinh đẹp mơ ước của Gatsby lợi dùng chàng, Gatsby bị rũ bỏ không chút luyến tiếc. Đám tang của một người nổi danh chừng ấy mà không một bóng hình tham gia, chỉ có người bạn duy nhất Carraway và ông bố quá khứ nghèo khó. Bắt đầu bằng hi vọng và chết đi bằng cô đơn – kết cục đau đớn dành cho một chàng trai đầy nhiệt huyết lý tưởng, và cũng là cú ngã đau đớn của cả “Thời đại Jazz”.

Sau cái chết đau đớn trong cô độc của Gatsby, Carraway đã nhìn ra được mặt đen tối của thời đại và tê liệt trước những giả tạo dối lừa trong cái xã hội tưởng chừng tuyệt vời đó. Vì nhìn quá lâu vào những thứ lấp lánh đẹp đẽ, Carraway phát hiện ra bản thân đã quên mất hẳn 1 lớp người khác biệt nằm dưới đáy xã hội – đó là những Wilson khù khờ, những Myrtel muốn thoát khỏi cảnh tủi nhục nhưng lại lóa mắt bởi những xa hoa phù phiếm, những con người ở những nơi đen tối không lối thoát – một xã hội mà nhìn lên y hệt một bản vẽ phong cách Roccoco xa hoa mà nhìn dưới thì chỉ những bùn dơ nhơ nhớp. Carraway dừng lại, bắt đầu tìm về đúng bản thân mình, và nhận ra theo đuổi những thứ phù hoa đều là sự vô nghĩa, mà phải tìm được chính bản thân mình – phải tìm ra ý nghĩa cuộc sống, tìm ra được điều mà mình muốn theo đuổi. Đó, mới là sống.

Đó là Gatsby – Gastby vĩ đại. Vĩ đại vì niềm tin, và cũng là kẻ đáng thương ngu xuẩn vì chính niềm tin đó.

Nguồn: https://readingcafe.wordpress.com/2014/12/09/the-great-gatsby-f-scott-fitzgerald/

Reading x Book Review | Sống giấc mơ đời mình – Ha-chu

i Khi chỉ còn vài tháng nữa là đến sinh nhật mình, tôi bàng hoàng nhận ra rằng mình sắp bước sang tuổi 25 mà chưa để lại dấu ấn gì sâu đậm: chuyện quá khứ còn chưa khép lại, giấc mơ còn dang dở và những ý định tương lai vẫn chưa thành hình. Trong lúc trong tôi hoang mang và hỗn loạn, tôi trăn trở về cái tôi của mình, tôi vô tình tìm đọc cuốn sách “Sống giấc mơ đời mình – Cảm hứng sống dành cho U25”. 

Trong bài viết này, tôi sẽ chia làm hai phần. Phần thứ nhất là quan điểm của tôi về sống như ước mơ và phần thứ hai sẽ là làm thế nào để được sống như mơ qua phần review về cuốn sách “Sống giấc mơ đời mình?”

  1. Rốt cuộc giấc mơ đời mình là gì?

Khi chúng ta rời ghế nhà trường, bước chân vào cuộc sống xã hội, trong lòng chúng ta tràn ngập hi vọng về những điều tốt đẹp. Và về bản chất cuộc sống vẫn luôn tươi đẹp như vậy nhưng cách nhìn của chúng ta đã bị đổi chiều. Nhưng rồi những lo lắng, bất an, những thất bại liên tiếp như một bùa mê thì thầm bên tai chúng ta rằng giấc mơ mà ngươi mong muốn sẽ không bao giờ thành sự thật được đâu. Những mong đợi của chúng ta về cái lí tưởng làm điều mình yêu thích dần dần trôi vào dĩ vãng. Kèm theo giông tố tuổi trẻ là những áp lức vô hình từ mọi phía đưa đẩy chúng ta tới lựa chọn an toàn và ổn định. Nhưng liệu đó có phải là điều mà chúng ta thực sự muốn? Liệu vòng tròn an toàn đó có thể khiến chúng ta an lòng và nguôi ngoai những giấc mơ tuổi trẻ? Có lẽ là không.

Có nhiều giải pháp để được đưa ra để khuyến khích chúng ta theo đuổi giấc mơ đời mình. Câu nói “Theo đuổi đam mê, thành công sẽ theo đuổi bạn” là một ví dụ. Câu nói đầy cảm hứng khuyến khích chúng ta tìm kiếm và theo đuổi đam mê của đời mình. Những trên thực tế, đam mê là một điều gì đó vô cùng mơ hồ và nếu cứ mù quáng theo đuổi đam mê trong khi không có năng lực thực tế và kế hoạch hành động cụ thể lại là vô hình chung biến chúng ta thành những đứa trẻ nhiệt tình cộng ngu dốt bằng phá hoại. Đã có một bài báo chứng minh điều đó với nhan đề “You’re not meant to do what you love. You’re meant to do what you’re good at” (Tạm dịch: Không phải làm điều bạn yêu mà làm điều bạn giỏi mới làm nên thành công của bạn).

Albert Einstein từng nói rằng: “Nếu bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây, con cá đó sẽ dành cả cuộc đời còn lại để tin rằng nó là một đứa ngu đần”. Điều đó chứng minh rằng nếu chúng ta không đặt đam mê của mình lên bàn cân năng lực, mọi điều chỉ là vô nghĩa mà thôi. Nếu chúng ta đánh giá thành công trong cuộc sống của mình ở nấc thang được làm những điều mình thích, chúng ta đang tiến dần hơn đến  con đường tuyệt vọng và cả đời chúng ta chỉ nhận được một nỗi thất vọng. Phần lớn chúng ta thường khi tin tưởng rằng chúng ta sẽ có tài năng để làm tốt công việc mình yêu. Nhưng đó chính là niềm tin mù quáng giống như việc tình yêu có thể vượt qua tất cả vậy. Làm sao chúng ta có thể nghĩ đến việc làm điều mình yêu thích khi mà chưa đặt bản thân vào hoàn cảnh khó khăn của thời điểm bắt đầu, bỏ qua cái tôi ngang bướng để đi đến cùng? Vậy nên theo tôi trước khi trở nên tuyệt vọng vì mình mãi không làm được điều mình thích, hãy tiếp tục tìm kiếm, đừng bằng lòng.

Steve Jobs có một câu nói truyền cảm hứng cho rất nhiều thế hệ: “And most important, have the courage to follow your heart and intuition, they somehow already know what you truly want to become. Everything else is secondary.” (Tạm dịch: Và điều quan trọng nhất, can đảm sống theo trái tim và trực giác của chính mình. Chính trái tim và trực giác mới là thứ biết được bạn muốn gì và bạn sẽ trở thành thế nào. Mọi thứ còn lại, chỉ là thứ yếu). Nhưng rất tiếc câu nói này chỉ dành cho những người ngay từ đầu đã biết họ muốn làm gì và điểm mạnh của họ là ở đâu. Vậy cho nên, chúng ta chỉ là những người bình thường nên hãy xếp mình vào hai loại. Một loại là thích sống như một phép thử và loại còn lại và ngại thử. Và nên nhớ rằng trong chữ thử thách bao giờ cũng bắt đầu bằng chữ thử, phải thử rồi mới biết nó thách mình ở điểm nào để sửa chữa.

Có câu nói rằng, “Nếu bạn thật sự muốn, bạn sẽ tìm ra cách. Nếu bạn không muốn, bạn sẽ tìm lí do”. Vậy làm thế nào để biết mình muốn gì? Sẽ chẳng có cách nào khác trên đời này ngoài việc tiếp tục TÌM KIẾM, lên kế hoạch HÀNH ĐỘNG, KIÊN TRÌ KIÊN ĐỊNH theo đuổi đến cùng. Nếu không yêu cầu, bạn sẽ chẳng bao giờ nhận được. Nếu bạn không bắt đầu, sẽ chẳng bao giờ bạn biết mùi vị của kết thúc.

Tôi muốn mọi người đặt ra câu hỏi song song với nhau “giấc mơ của mình là gì và mình có thể làm được gì?” trước khi bắt tay vào làm bất cứ điều gì. Vì cũng giống như câu nói để biến giấc mơ thành hiện thực, trước hết chúng ta phải tỉnh dậy. Đừng quên tự hỏi bản thân mình “mình có thể làm được điều gì, mình có thể cho đi điều gì, điều gì thực sự ở trong bản thân mình, giá trị của mình nằm ở đâu” trước khi quay lại giường và mơ tiếp những giấc mơ xa vời tầm với khác. Hãy bỏ qua sai lầm chỉ chăm chú vào làm bất cứ điều gì mình mơ ước để rồi nhận được thất bại đắng cay.

Vậy làm thế nào để chúng ta được sống như chúng ta mơ ước? Làm thế nào để cuộc sống của chúng ta tràn đầy màu sắc và hạnh phúc như những người xung quanh. Câu trả lời nằm ở trong cuốn “Sống giấc mơ đời mình”.

Cùng đón đọc phần 2 “Sống giấc mơ đời mình” trong những bài viết tiếp theo trên blog Thebooklovers nhé.

Book Review | Khu vườn mùa hạ | Mùa thu của cây dương | Organ mùa xuân – Kuzami Yumoto

Khu vườn mùa hạ (Natsu no niwa), Mùa thu của cây dương (Popura no aki), Organ mùa xuân của Kuzami Yumoto – Thế giới đẹp đẽ và thanh khiết dần mở ra, bước nhẹ vào lòng tôi một cảm giác êm ái lạ thường.

Cũng giống như series phim bốn mùa của Hàn Quốc (Điệu Valse mùa xuân, Hương mùa hạ, Trái tim mùa thu, Bản tình ca mùa đông), Kuzami Yumoto cũng có một bộ truyện bốn mùa (Organ mùa xuân, khu vườn mùa hạ, mùa thu của cây dương và 1 tác phẩm nữa về mùa đông chưa ra đời). Tên tiếng Anh của Khu vườn mùa hạ là “The friends”, của Mùa thu của cây dương là “The letters” và Organ mùa xuân là “Spring Tone”. Tôi thích cách dịch của dịch giả Việt Nam hơn vì tên gọi của cuốn truyện đã nói ngay lên được chủ đề và sự đẹp đẽ diệu kì của thiên nhiên mà cuốn truyện muốn truyền tải. Có thể nói Kuzima đã góp công rất lớn trong việc thanh lọc tâm hồn và tưới một nguồn nước tinh khiết vào những tâm hồn khô cằn khi mang đến cho độc giả những câu chuyện tươi mát, du dương qua những tác phẩm của mình.

Truyện của Kuzima thương có cốt truyện rất đơn giản, không cầu kì, kiểu cách, không đao to búa lớn, tự nhiên và nhẹ nhàng dẫn dắt người đọc đi xuyên suốt mạch truyện. Những tác phẩm của Kuzima trong tôi giống như những bản nhạc piano nhẹ nhàng cất lên khúc dạo đầu du dương rồi dần đẩy lên cao trào và kết thúc một cách sâu lắng êm dịu. Trái tim tôi trở nên rất dễ chịu sau khi đọc mỗi tác phẩm của Kuzima. Cảm giác giống như vừa uống một liều thuốc an thần xoa dịu tâm hồn và băng những miếng gạc làm lành những vết thương vậy. Vốn chúng ta hay nghe nói đến âm nhạc có khả năng chữa lành, nhưng với tôi sách cũng gần như có tác dụng tương tự. Không phải tôi yêu sách mà dành cho chúng sự ưu ái đặc biệt, nhưng với tôi, mỗi cuốn sách giống như một dấu vết của duyên phận, khi đã đi lướt qua rồi luôn khắc ghi trong chúng ta những bài học day dứt. Bạn không thể mua được hạnh phúc, nhưng bạn có thể mua sách, chúng cũng tương tự nhau mà thôi.

Trong các tác phẩm của Kazumi, có lẽ nổi bật nhất hai điều. Đó là tình yêu và sự thấu hiểu thiên nhiên vô bờ dưới con mắt ngây thơ, non nớt, vụng dại của những đứa trẻ và sự ám ảnh về cái chết và sự đơn độc như hầu hết các tác phẩm văn học Nhật khác. Tôi tự hỏi có phải vì người Nhật luôn bị ám ảnh bới cái chết và sự chia ly nên họ mới sống một cuộc đời vội vã và đầy đam mê như vậy. Người Nhật coi cái chết như một điều gì đó nhẹ nhàng tất yếu và dễ dàng đón nhận mà không hề quá sợ hãi hay rùng rợn. Truyện ngắn Nhật Bản thường có tiết tấu rất chậm và đôi lúc rườm rà , ảm đạm nên đòi hỏi người đọc phải cực kì kiên nhẫn để đi hết một tác phẩm. Cái cảm giác sống chậm lại đến bức bối khi đọc truyện cũng giúp chúng tôi học được cách nắm bắt từng khoảnh khắc và chầm chậm thẩm thấu những triết lí tác giả muốn gửi gắm đến người đọc và dần biết nhạy cảm, rung động trước nỗi đau của người khác.

Nếu được dùng từ ngữ để mô tả về ba tác phẩm này, tôi chỉ có thể thốt lên rằng ba tác phẩm giống như những bức tranh sống động được pha bằng những mảng màu rực rỡ và ảm đạm xen kẽ nhau. Nhắm mắt lại tôi vẫn có thể tưởng tượng ra một khu vườn xanh mướt, những cánh hoa anh đào mùa xuân, cúc cánh bướm rung rinh trong gió nở rộn rạng, hàng rào bằng gỗ bao quanh khu vườn được sơn sửa cẩn thận, màu của ánh sáng dần hiện lên sau những giọt nước tưới văng lên hay những buổi trưa hè mấy ông cháu cùng ngồi dưới mái hiên ngắm mưa, ăn dưa hấu, lê Nhật, dâu tây ngọt lịm và kể cho nhau nghe chuyện quá khứ và cùng xoa dịu nỗi đau tinh thần thấm đượm chua xót.

man-nhan-voi-hinh-anh-trai-cay-chin-mong-trong-mua-thu-hoach.jpg

Khung cảnh dần chuyển sang bức tranh mùa thu tràn ngập màu vàng của cây dương già, những chiếc lá dương vàng óng rụng lả tả theo gió thu trong những buổi chiều cô gái nhỏ Chiaki cùng bà cụ quét lá dương, cùng nhau đốt lửa nướng khoai lang, mùi khoai lang thơm phức, nóng hổi lan toả khắp khu vườn,  khói bay nghi ngút, chú mèo nhỏ nằm cuộn tròn dưới gốc cây dương êm đềm. Hay cô bé nhỏ theo cậu con trai mới lớn đi nhặt những viên đá nhiều màu sắc cùng nhau mang đến nhà thờ tặng Chúa. Không chỉ thế, những dấu hiệu của mùa cũng được khắc hoạ qua cả những âm thanh với tiếng ve kêu râm ran và tiếng gió rít nhẹ qua tán lá cây. Thế giới họ sống và trải qua từng ngày hiện lên đầy đẹp đẽ và mê hoặc.

mua-thu-nuoc-Anh-11

Và lại một lần nữa, cái chết được khắc hoạ đến ám ảnh trong các tác phẩm. Khu vườn mùa hạ đề cập đến cái chết qua con mắt tò mò của những cậu bé lớp 6. Các cậu theo dõi môt ông cụ đã gần đất xa trời vì muốn tìm hiểu cái chết là như thế nào. Nhưng cho đến cuối câu chuyện, ngay cả khi ông cụ đã ra đi, câu hỏi của chúng vẫn chưa có lời giải đáp vì chỉ có chết thật mới cảm nhận được và chúng sẽ phải tiếp tục tự đi tìm câu trả lời cho chính mình. Cái chết của ông cụ đến rất nhẹ nhàng như một điều tất yếu phải thế mang theo nỗi đau buồn đau đáu của những đứa trẻ.

wpid-so11main-copy-jpg.jpeg

Mùa thu của cây dương kể về cái chết qua sự tuyệt vọng của một cô bé mất cha từ nhỏ và sự già đi trông rõ của một bà cụ mang trong mình sứ mệnh kì lạ là sứ giả đưa thư nối liền hai thế giới âm dương với nhau. Dường như nỗi mất mát quá lớn khi mất cha đã cuốn lấy cô bé như những hố đen sâu tuyệt vọng, quật ngã cô bé như những cơn giông tố ngùn ngụt và ám ảnh cô bé trong nỗi cô đơn trong một thời gian dài. Còn nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất đi điểm tựa vững chắc nhất của cuộc đời. Những nỗi đau đó cùng với sự quan tâm thầm lặng, nhẹ nhàng của bà cụ đã dần dần được xoa dịu. Ở Mùa thu của cây dương, bà cụ coi cái chết như một nhiệm vụ chuyển thư đến những người đã khuất nên khi bà ra đi cũng rất nhẹ nhàng và thanh thản. Cái chết trong câu chuyện của Yumoto Kazumi có lẽ không hề đáng sợ như nhiều người vẫn nghĩ. Cái chết, với bà cụ chủ nhà giống như một chuyến đi, một nghĩa vụ, một công việc phải làm mà thôi.

Kazumi-Yumoto-04.jpg

Đi hết Khu vườn Mùa hạ và Mùa thu của Cây dương, chúng ta nhẹ nhàng đắm mình trong những trang sách êm dịu của . Mùa xuân mang tới cảm giác thật tươi mới và tràn đầy sức sống. “Cảm giác một thứ nước như mật đang từ từ chảy trong cơ thể, thật dễ chịu. Ngoài cửa sổ, bầu trời sáng trong rộng mở, hoa anh đào cũng đang kỳ nở rộ. Tiếng lũ chim bay lượn như đang nhảy nhót xung quanh những đóa hoa anh đào, thấm sâu tới mọi ngóc ngách của cơ thể vừa tỉnh giấc”.

oMPV37f

Organ mùa xuân bắt đầu câu chuyện bằng những khủng hoảng của Tomomi khi cô bé bước vào kỳ nghỉ xuân trước khi lên cấp hai. Tomomi đang mắc kẹt với những vấn đề và khúc mắc quá sức đối với đứa bé gái mới lớn: bố mẹ hay xảy ra cãi vã và đang sống li thân do cuộn chiến triền miên với nhà hàng xóm, bà nội vừa qua đời để lại vết thương lòng vẫn chưa lành khiến cô bé luôn gặp ác mộng trong những giấc ngủ, cậu em Tetsu ham đọc sách luôn mang trong mình những ý tưởng kì lạ và ương bướng và người ông nội luôn lủi thủi một mình cô độc. Tomomi trải qua giai đoạn chuyển giao này một cách khó khăn. Cô bé cảm thấy có lỗi trước cái chết của bà, sợ hãi trước kẻ quấy rối, mong muốn và khao khát nhận được sự chú ý của bố mẹ,  được ai đó thấu hiểu và chia sẻ với mình. Tomomi chông chênh giữa ngưỡng tuổi chuyển giao để dần đối mặt với hiện thực trưởng thành. Đối mặt với những vấn đề đó Tomomi tự hỏi “Rồi tôi sẽ trở thành người như thế nào đây?”

18095992_300376763733114_7570555028058931200_n.jpg

Quá trình trưởng thành của Tomomi diễn ra thầm lặng qua những cuộc phiêu lưu của cô bé với cậu em trai Tetsu với sứ mệnh kì lạ: tìm mèo ốm. Hai đứa trẻ tìm đến lũ mèo hoang bị bỏ rơi bên bãi rác ở bờ sông và chăm sóc cho chúng. Tomomi và Tetsu thậm chí còn lên kế hoạch vô cùng mạo hiểm là bỏ nhà đi đến bãi sông sống bên lũ mèo. Qua việc chăm sóc lũ Mèo, Tomomi đã được trải nghiệm những lần đầu tiên của tuổi trưởng thành như lần đầu tiên rời xa gia đình tự lập, lần đầu tiên tự nấu năm, lần đầu tiên tự chăm sóc cho lũ mèo và nhất là lần đầu tiên dám đứng lên lớn tiếng bảo vệ em trai mình và dám hành động cứu lũ mèo khỏi dịch bệnh thay vì đứng nhìn. “Đấu tranh cho việc không thể làm gì khác được, chính là một hành động can đảm” . Từ những trải nghiệm đau thương và hạnh phúc của mình, Tomomi dần trưởng thành và nhìn thế giới với con mắt của người trưởng thành và trách nhiệm. “Bầu trời như càng xanh hơn, cả Tetsu, cả lũ mèo, cả bác ấy và cả chiếc xe bus hoảng đều trở nên xanh hơn trong ánh sáng rực rỡ.” Khi hiểu được chính bản thân mình qua những trải nghiệm, cô bé chia tay với mùa xuân ấm áp+ “với lồng ngực đầy ắp hương mùa hè, tôi nói lời chia tay với mùa xuân chẳng biết đã kết thúc từ lúc nào”.

Tôi luôn tự hỏi nếu người ta cứ luôn ám ảnh về cái chết nhiều như vậy thì lấy thời gian đâu để tận hưởng những ngày còn sống. Steve Jobs cũng luôn coi mỗi ngày là ngày cuối cùng mình còn sống để tận sống, tận trải nghiệm. Vậy hoá ra những người ý thức được cái chết lại là những người mong ngóng được sống hơn cả vì họ không muốn một cuộc sống phí phạm và mòn mỏi, tủn mủn và vụn vặt.

Những tâm hồn tổn thương đã đến hàn gắn cho nhau một cách tự nhiên và đẹp đẽ như thế. Những quan tâm và yêu thương, lo lắng họ dành cho nhau có thể chạm đến giới hạn sâu thẳm của tâm hồn.

The Book Lovers

Vào một buổi sáng mùa thu tháng 8 gió mát lành và nắng nhè nhẹ

 

 

 

Book Review | “Nếu biết trăm năm là hữu hạn”

Tôi rất thích câu nói: “Có mấy người đi qua thương nhớ mà quên được nhau”. Thương nhớ có mấy khi dễ dàng để đi qua vì trong nỗi nhớ nhung vô hạn còn chất chứa cả niềm thương nhớ vô bờ. Nỗi nhớ có thể dễ dàng bị cuốn trôi bởi sự lạnh lùng của thời gian nhưng sự tiếc thương và lòng trắc ẩn sẽ chẳng bao giờ phai mờ. Vì điều mà ta không đạt được, trong những năm tháng tuổi trẻ ngây ngô dễ tổn thương nhất, không bao giờ chúng ta có thể quên được.

Thế nhưng, nếu chúng ta biết rằng trăm năm là hữu hạn, nếu chúng ta biết rằng thời gian chúng ta đi qua đời nhau không phải là mãi mãi, liệu rằng chúng ta vẫn dành cả một đời để nhớ để thương một người không bao giờ nhớ thương mình?

Khi tôi trái tim tôi cứ mãi hướng về một người và dõi theo người đó vô ngần, tôi đã đọc được một câu nói như thế này: “Đã qua mất rồi bao cơ hội được yêu”. Câu nói này tôi vô tình đọc được trong cuốn “Nếu biết trăm năm là hữu hạn” của Phạm Lữ Ân. Đây cũng là cuốn sách duy nhất tôi mang về từ chuyến công tác Sài Gòn. Có lẽ tôi có một duyên phận lạ kì với sách khi chúng luôn tìm đến tôi khi tôi cần chúng nhất, động viên, yêu thương, vỗ về tôi như một nhân duyên vô định.

neu-biet-tram-nam-la-huu-han.jpg

Ngồi ở một ghế đá dưới bóng mát ở đường sách Nguyễn Bình, tôi bắt đầu nhâm nhi từng trang sách dưới cái nắng như đổ lửa của Sài Gòn. Có lẽ đúng như câu nói “Đây là cuốn sách giúp tôi tiết kiệm đến một nửa cuộc đời” của một độc giả nào đó, tôi dần chiêm nghiệm được bản chất của những suy nghĩ trong tâm tư mình. Vì sao mình không biết yêu thương mình mà vẫn luôn muốn người khác phải để tâm? Vì sao những năm tháng đẹp đẽ nhất mình vẫn mãi không thể nguôi ngoai một nỗi nhớ? Câu trả lời thật ra rất đơn giản. Trong câu nói “Anh yêu em” hay “Em yêu anh” luôn bắt đầu với chữ Anh/Em đầu tiên. Để yêu thương người khác trước hết mình phải biết yêu và thương lấy mình. Nhưng trên thực tế tôi cảm thấy chúng ta rất hay đối xử với bản thân một cách tàn nhẫn. Chúng ta chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với những gì mình có, thay vì đó luôn chìm đắm trong những suy nghĩ tiêu cực để vùi dập và trách móc chính mình. Trong tâm lý học, thái độ hằn học với chính mình được gọi tên bằng thuật ngữ self-rejection (tự chối bỏ, khước từ chính mình) và self-abuse (tự hành hạ bản thân), self-judgement (tự xét nét mình). Do đó, tôi học cách tha thứ cho chính mình, đối xử nhẹ nhàng với những lỗi lầm của bản thân và cố thoát ra khỏi quá khứ – những kỉ niệm ở giai đoạn tôi có tất cả nhưng tôi đã vô tình không nhận ra. ” Osho hay ví cuộc sống này như sông Hằng, bạn cố bơi ngược dòng cũng không được, bạn cố chặn dòng chảy cũng không được, hãy thả lỏng, dòng sông có trí tuệ của nó, nó sẽ đưa bạn đến nơi cần đến, bất ngờ có được còn tuyệt vời hơn những gì bạn dự tính. Ở trạng thái đó, bạn kết nối và hài hoà với cuộc sống này, bạn cảm nhận dòng chảy, ngắm trời ngắm mây, ngắm phong cảnh 2 bên bờ sông, nhìn cuộc đời diễn biến, nhìn thấy quy luật của nó là thay đổi không ngừng và trân trọng giây phút hiện tại.”

Neu biet tram nam la huu han.png

Vì những đòi hỏi quá sức tưởng tượng, nên tôi hay đặt ra những tiêu chuẩn cho những người xung quanh mình và không biết từ lúc nào tôi yêu người ta theo cách yêu một thần tượng. “Và khi ấy… tôi đã yêu cậu theo cách người ta yêu những… thần tượng”. Mà thần tượng thì không bao giờ mình với tới và có một kết cục tốt đẹp là điều tất nhiên. Chính vì thế nên nhiều người luôn mãi theo đuổi một hình bóng thần tượng cho đến mãi sau này. Vậy nên đừng yêu ai đó theo cách bạn muốn người ta phải thế và nếu không được đáp lại thì liên tục hỏi tại sao như một nỗi trăn trở của tuổi trẻ không có câu trả lời. Vì thời gian vô cùng hữu hạn, nên với những người và những sự việc bị mắc kẹt trong quá khứ hãy tìm câu trả lời thật nhanh và sớm thoát ra khỏi những suy tư kìm kẹp đó đê bắt đầu những trải nghiệm mới. Tôi rất sợ phải dùng từ nỗ lực để quên đi một người vì trước nay tôi là một cô gái vô cùng độc lập, tôi luôn nỗ lực để mình trở nên độc lập hơn. Để thời gian đi hiện thực hoá giấc mơ thì tốt hơn. Nên bắt đầu một chiến dịch giải cứu con tim để dần trở về với con người tự nhiên nhất của mình.

Trăm năm vô cùng hữu hạn. Thực ra vì chúng ta không ý thức được sự hữu hạn của thời gian, nên chúng ta thường chần chừ và chùng chình trước những cơ hội. Cơ hội trải nghiệm một vùng đất mới, cơ hội nói yêu thương một người, cơ hội để cho mình được hạnh phúc hơn… đều bị chúng ta bỏ qua. Tôi thường nghĩ rằng để sau này mình làm thì sẽ tốt hơn là làm luôn bây giờ. Những điều phức tạp luôn được bộ não tự động xử lí để sau này giải quyết và chúng ta đặt mình ở trạng thái tiếp tục chờ đợi. Chờ đợi chính là kẻ thù giết chết ước mơ, giết chết niềm vui và khiến chúng ta sống trong mòn mỏi. Sẽ ra sao nếu chúng ta bắt đầu coi ngày Chủ nhật là bắt đầu một tuần mới thay vì thứ 2. Nếu như vậy hiệu ứng Ngày thứ hai và Ngày thứ sáu sẽ nhanh chóng chấm dứt. Sẽ ra sao nếu chúng ta lên kế hoạch cho kì nghỉ năm sau của mình bắt đầu từ năm nay. Và đâu nhất thiết mùa hè là mùa lên đường, quanh năm còn ba mùa để chúng ta lựa chọn. Sẽ ra sao nếu chúng ta có bốn kì nghỉ một năm và đặt chân đến những vùng đất mới nhiều hơn một lần mỗi năm. “Dừng chờ đợi thứ sáu, chờ đợi mùa hè và chờ đợi người yêu mình đến. Hạnh phúc tìm đến khi chúng ta ngừng chờ đợi và sống trong từng khoảnh khắc chúng ta thuộc về”

stop.png

Thực ra, nếu  chúng ta chịu dừng lại và nghĩ một chút thôi, chúng ta sẽ thấy rằng, những người và sự vật bên cạnh mình thực ra sẽ không đồng hành cùng mình mãi mãi. Cuộc đời rất ngắn ngủi, chúng ta đi chung với nhau có bao lâu đâu mà hững hờ.

“Đừng đặt những người mình yêu thương sang một bên cho đến mãi về sau”

 

[Book Review] Tôi nói gì khi nói về chạy bộ – Haruki Murakami

“Tôi nói gì khi nói về chạy bộ” ấn tượng tôi ngay từ những dòng đầu tiên chan chứa chất văn mộc mạc, khắc họa cuộc sống của một nhà tiểu thuyết gia chạy bộ của Haruki Murakiami tại hòn đảo thiên đường Kauai, Hawaii.

“Buổi sáng, khi trời lạnh, tôi ngồi vào bàn, viết đủ mọi thứ… Cuộc sống ở đây hạnh phúc ra sao, tôi có thể đi loanh quanh tha thẩn tùy thích, đọc sách dưới bóng cây hoặc mặc nguyên như thế bước xuống, nhúng mình trong con lạch trong veo mát lành… Tôi chạy chừng một giờ mỗi ngày, sáu ngày một tuần. Tôi chạy trong tiếng nhạc Lovin’ Spoonful phát ra từ chiếc Walkman cũ bên đường bờ biển Hawaii, dưới cái nắng hè tàn khốc dịu dàng mang theo “gió mậu dịch từ phía ngọn hải đăng thổi lá khuynh điệp xào xạc”, dưới cơn mưa mùa hè mát lạnh dễ chịu”… 

tumblr_m5frdbb0Mr1qhjcnho1_1280.jpeg

Những câu văn của Murakami cuốn tôi vào thế giới của ông một cách mê hoặc. Dưới ngòi bút tài tình và sắc sảo của Murakami, cuộc sống bình dị mộc mạc trở nên thật quyến rũ và dễ thương biết chừng nào. Dường như Murakami đã tận hưởng cuộc sống của một tiểu thuyết gia chạy bộ vô cùng tinh tế, tỉ mỉ và khiêm nhường cũng giống như chính con người ông vậy. Bên cạnh đó, những trải nghiệm thú vị qua giọng văn truyền cảm hứng của Murakami thôi miên người đọc bước vào một hành trình như thể họ đang tự bước đi trên con đường của chính mình.

Qua những trang văn giàu chất tự truyện về sở thích chạy bộ của mình trong tác phẩm “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ”, Murakami đã đưa độc giả hòa quyện vào thứ văn chương quyến rũ lôi cuốn giàu trí tưởng tượng vô hạn của ông và điểm khuyết đâu đó triết lí nhân sinh giản dị mê hoặc mà bất cứ một người nào đam mê lối sống cống hiến mà nguyên tắc đều muốn nắm bắt và gìn giữ lấy.

1. Sở thích chạy bộ bền bỉ nghiêm túc

Cuốn sách đã khắc họa sở thích chạy bộ bền bỉ của Murakami vô cùng sống động.

Murakami đối với chuyện gì cũng để tâm và thực hiện hết sức nghiêm túc cật lực, kể cả với việc vô thưởng vô phạt như chạy bộ. Murakami bắt đầu chạy bộ vào mùa thu năm 1982, hồi ấy ông ba mươi ba tuổi. “Ở cái tuổi mà Jesus Christ chết. Cái tuổi mà Scott Fitzgerald bắt đầu xuống dốc. Cái tuổi ấy có thể là một kiểu giao lộ trong đời. Đó là cái tuổi khi tôi bắt đầu cuộc đời người chạy bộ của mình, và đó là điểm xuất phát muộn màng nhưng chân thực của tôi, làm tiểu thuyết gia.”

Lí do ông đến với chạy bộ là để giảm cân, bỏ thuốc lá và tăng sức bền khi viết tiểu thuyết. Nhưng theo tôi, còn một lí do đặc biệt ẩn sâu sau việc ông theo đuổi sở thích chạy bộ đó là bởi chạy bộ mang lại cho ông sự đơn độc cô đơn. Sự cô đơn đưa chúng ta đến với thế giới sáng tạo bằng việc tạo ra những khoảng không trống rỗng trong lòng để cho những ý tưởng có cơ hội được lấp đầy. Trong văn chương của ông, sự đơn độc cũng được khắc họa rất rõ nét để rồi chúng ta có thể gieo mình trong thế giới của Murakami để được chiêm ngưỡng sự quyến rũ khắc khoải của nỗi cô độc, “mà ở đó mỗi người đều là một cá thể độc lập, có ý thức riêng biệt, và có thể thấu suốt được tận cùng tâm hồn của mình. Nên cô độc thực chất cũng là một trạng thái tuyệt vời.” 

p1000263.JPG

Một lí do nữa thôi thúc Murakami chạy bộ đó chính là chạy bộ giúp ông sống có mục đích hơn. “Hầu hết những người chạy bộ chạy không phải vì họ muốn sống lâu hơn, mà vì họ muốn sống trọn vẹn. Ngay cả khi ta chỉ định sống cho qua ngày đoạn tháng thì vẫn sẽ tốt hơn nhiều nếu sống những năm tháng ấy với những mục đích rõ ràng và sống động trọn vẹn thay vì bối rối hoang mang, và tôi tin rằng chạy bộ giúp ta làm được điều đó”. Thường chúng ta hay có niềm tin mãnh liệt rằng mục đích sống phải là một điều gì đó thật cao cả và lớn lao. Nhưng đôi khi nó lại được định nghĩa đơn giản như vậy đó. Chỉ cần ngày mai thức dậy, thấy điều mình cần làm trong đời, sống mãnh liệt và trọn vẹn với điều đó, như vậy là đủ.

Dựa trên những lí do kiên định đó, hành trình chạy bộ của Murakami thể hiện sức bền và sự tiến bộ tăng cấp mỗi ngày của ông. Cho đến nay, Murakami đã chạy bộ được một phần tư thế kỉ và tham gia thi thố ở một số cuộc đua marathon tẫm cỡ thế giới. Ban đầu ông chỉ chạy tầm hai ba mươi phút thì tim bắt đầu đập thình thịch, chân run. Rồi ông dần mạnh dạn tham gia cuộc chạy đua 5km, 15km, 22.4 dặm. Sau cột mốc quan trọng tham gia cuộc chạy đua Marathon chính thức 26.2 dặm tại Athens giữa mùa hè nắng đổ lửa, mỗi năm ông đều tham gia một cuộc chạy đua Marathon tại New York, Boston, Hokkaido…. Ông nâng dần thử thách lên bằng việc tham gia thử sức bộ môn ba môn phối hợp Honolulu bao gồm bơi lội, đua xe và chạy bộ.

Và trên hành trình chạy bộ gian khổ đó, ông chưa một lần từ bỏ. Murakami không bỏ một ngày chạy bộ nào. Cho dù bất cứ lí do gì đi chăng nữa ông vẫn kiên trì với kế hoạch ban đầu đặt ra. Mỗi ngày chạy bộ chừng 1 tiếng, chạy 6 ngày một tuần, mỗi năm tham gia một cuộc thi Marathon trong suốt hơn hai mươi năm ròng rã. Sức bền chạy bộ của ông cũng giống như sức viết mãnh liệt bền bỉ suốt năm tháng của ông vậy. Và dù chạy bộ có vất vả đến đâu, ông cũng chưa một lần cuốc bộ, vẫn giữ nhịp chạy cũng như đam mê chạy âm ỉ cháy mãi trong tim mình.

Haruki-Murakami-011.jpg

“Tôi chỉ có một ít lý do để tiếp tục chạy, và vô số lý do để bỏ cuộc.

Nhan đề “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ” khiến cho người đọc tò mò về những điều tác giả muốn gửi gắm trong quá trình chạy bộ. Thực tế khi chạy, Murakami để đầu óc mình trở nên trống rỗng, ông không nghĩ tới bất cứ một điều gì cả. “Khi chạy, tôi tự nhủ mình hãy nghĩ đến một dòng sông. Và mây. Nhưng cơ bản thì tôi không nghĩ đến một cái gì cả. Tất cả những gì tôi làm là cứ chạy trong cái trống không tự tạo, ấm cúng, sự tĩnh lặng và hoài niệm tuyệt vời.” Công việc chạy bộ giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp văn chương của Murakami, nhưng ông không chạy bộ vì muốn sáng tác nhiều hơn – Điều biến ông trở thành một người chạy bộ thực sự. Xuyên suốt cả tác phẩm, điều duy nhất tôi muốn gửi gắm đến người đọc chỉ có vậy.

Murakami từng chia sẻ với báo giới: “Một nhà văn may mắn có lẽ chỉ viết được khoảng 12 cuốn tiểu thuyết tử tế trong đời. Tôi không biết tôi đã có bao nhiêu cuốn đọc được nhưng tôi chỉ hy vọng viết thêm 4 hay 5 cuốn nữa có chất lượng. Khi chạy, tôi không có cảm giác về giới hạn đó. Cứ 4 năm, tôi mới xuất bản được một cuốn tiểu thuyết dày dặn nhưng hàng năm tôi thường xuyên chạy 10 km, bán marathon và cả marathon. Đến nay, tôi đã tham gia 27 cuộc chạy marathon. Lần cuối cùng vừa diễn ra hồi tháng 1. Và chuyện tôi sẽ có cuộc marathon thứ 28, 29 và 30 trong tương lai là điều hoàn toàn tự nhiên”.

2. Sự nghiệp văn chương kiên trì với sức viết vô hạn

Đâu đó trong những câu chuyện chạy bộ của mình, nhà văn đưa độc giả lạc vào xử sở văn chương của ông. Cho dù ông chỉ điểm xuyết suy nghĩ về việc viết văn của mình đan xen suy nghĩ về chạy bộ, nhưng chúng ta cũng phần nào thấy được chân dung của một nhà văn độc đáo bên cạnh một nhà chạy bộ đầy nguyên tắc.

Murakami đón nhận sứ mệnh viết lách của mình như một điều tự nhiên tất yếu phải hoàn thành trên đời. Cảm hứng văn chương đến với ông trong một trận bóng chày. Ông viết: “Tôi vẫn còn nhớ được bầu trời bao la, cảm giác cỏ non cọ vào dưới thân mình, cú đánh bất ngờ mạnh khiến thỏa lòng. Có gì ấy từ trên trời bay xuống vào giây phút đó, và bât luận nó là gì, tôi cũng đã đón nhận. Tôi chưa từng có tham vọng trở thành tiểu thuyết gia. Tôi chỉ có cái mong muốn mãnh liệt là viết một cuốn tiểu thuyết.” Cú đập bóng chày ăn điểm đã thức tỉnh Murakami khiến ông đón nhận sứ mệnh viết lách. Sự kiện này cũng tình cờ và kì diệu như câu chuyện quả táo rơi trúng đầu Newton khiến ông tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn vậy. Murakami bắt đầu đặt bút viết tác phẩm đầu tay Nghe gió hát (Hear the Wind Sing) vào mùa xuân năm 1978, cho đến mùa thu thì hoàn thành tác phẩm đầu tay. Tôi tự hỏi trên thế gian này có mấy người dám dũng cảm từ bỏ cảm giác an toàn để đón nhận vận mệnh dành cho riêng mình?

Haruki Murakami là người luôn cập nhật và làm mới mình thường xuyên. Vì vậy “dòng suối cảm hứng” sáng tác trong ông hiếm khi tàn lụi. “Mỗi khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tôi phải khơi một các hố sâu khác”. Mỗi khi bắt đầu viết tác phẩm mới, ông đều làm khó mình bằng cách lựa chọn và tìm kiếm những đề tài, những nhân vật mới mẻ để không lặp lại chính mình. Để làm được điều này, ông dùng chính sức mạnh về mặt thể chất qua rèn luyện để “đào một cái hố trong đá cứng và định vị mạch nước” để không mắc phải cái bẫy của “suối nguồn tài năng thiên nhiên dần cạn kiệt”. Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao cũng từng viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Ở đây có lẽ ta tìm thấy sự đồng điệu trong nguyên tắc sáng tác văn chương kiên định của Murakami và Nam Cao. Sáng tác văn chương không phải là một công việc khó, nhưng chơi đúng luật “không lặp lại chính mình và không lặp lại người khác” qua các tác phẩm mới là điều khó và nói lên ai là thiên tài.

p1000265.JPG

Chỉ những người cùng giấc mơ với tôi mới có thể đọc sách của tôi-Haruki Murakami đã nói thế trong một lần phỏng vấn. “Không ai đọc tác phẩm của ông mà quên được những bối cảnh vô cùng kỳ lạ, những nhân vật có một không hai và không trăn trở về những thông điệp đan cài khéo léo trong đó. Những tiểu thuyết tuyệt diệu của Haruki Murakami là tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của phương Đông với đầy rẫy bí ẩn.” Tôi tin rằng chỉ một nhà văn chân chính và một nhà chạy bộ đơn thuần như Murakami mới có thể viết nên những tác phẩm như vậy.

3. Triết lí nhân sinh giản dị mà tinh túy

Những triết lí Murakami lĩnh ngộ được trong suốt sự nghiệp viết sách và chạy bộ của mình thật giản dị mà tinh túy.

quote-in-long-distance-running-the-only-opponent-you-have-to-beat-is-yourself-the-way-you-haruki-murakami-87-84-21.jpg

Đau khổ là tự nguyện

“Đau đơn không thể tránh khỏi, đau khổ là tự nguyện” là câu nói luôn hiện diện trong đầu của một nhà chạy bộ chuyên nghiệp. Khi ta coi đau khổ là tự nguyện, tự ta muốn vậy mà không đổ lỗi cho yếu tố bên ngoài, ta sẽ dễ dàng chịu đựng nỗi đau ấy hơn. Một người sống với tâm thế coi nỗi đau là một điều tất yếu hiển nhiên như không khí, nhưng hơi thở vậy sẽ không bao giờ phải buồn phiền vì những điều xảy ra không như ý muốn. Để đạt được đến cảnh giới như vậy, chắc hẳn người đó phải buông bỏ rất nhiều và chỉ tập trung vào những điều có ý nghĩa nhất, đơn giản nhất. Chúng ta luôn có thể chọn con đường dễ dàng để đi, như chúng ta tự nguyện đi qua đau khổ để đạt được điều mình muốn bởi “tổn thương về mặt cảm xúc là cái giá một người phải trả để được độc lập.”

Câu nói này còn có một cách hiểu khác là “Khổ đau là không thể tránh khỏi. Nhưng đau đớn hay không là một sự lựa chọn.” Khi đau khổ đến, ta có thể lựa chọn hoặc phát điên phát rồ chống lại nó, điên cuồng tìm cách lãng quên hoặc lựa chọn nhìn vào mặt tích cực để quên đi đau khổ và sống tốt hơn. 

Sống nghiêm khắc và trọn vẹn

“Hầu hết những người chạy bộ chạy không phải vì họ muốn sống lâu hơn, mà vì họ muốn sống trọn vẹn.” Chạy bộ giúp ta sống trong những năm tháng với mục đích rõ ràng và sống động trọn vẹn. Thường chúng ta dễ buông xuôi với những nguyên tắc của mình để mình được sống dễ dàng hơn nhưng lại ít khi chịu nhận thức rằng lối sống dễ dãi với bản thân một ngày nào đó quay ngược lại đòi chúng ta trả giá. Do đó, hãy mài giũa bản thân, kiên trì theo đuổi các thói quen tốt.

Sự khắc nghiệt trên đường đua cũng như sự tàn khốc của cuộc đời con người

Trên đường đua marathon, ban đầu chúng ta hào hứng phấn khởi chạy hết tốc lực vì muốn về đích thật nhanh, nhưng được một đoạn đường chúng ta bắt đầu thấm mệt và tiếng nói muốn bỏ cuộc chưa bao giờ mê hoặc chúng ta nhiều đến thế. Những người không vượt qua được cám dỗ sẽ dễ dàng từ bỏ cuộc đua, đi cuốc bộ rồi không biết ngày nào tới đích. Cũng có khi bị bỏ lại quá xa mà lạc đường. Những người vượt qua được nỗi đau muốn từ bỏ đến điên cuồng, sẽ đạt đến một cảnh giới nhất định, đến một giai đoạn mà mọi mệt mỏi đã dần quen thuộc, càng chạy chúng ta càng thấy dẻo dai, bền sức hơn, đường tới đích chỉ còn là vấn đề thời gian.

Cuộc đời con người cũng giống như vậy. Trên đường đua “marathon của một đời người”, khi còn trẻ chúng ta muốn thành công, tìm mọi cách để về đích thật nhanh. Nhưng khi bị đời quật ngã dúi dụi, cho những bài học thử thách, có nhiều “người bộ hành” đã sớm đầu hàng, lựa chọn con đường nhàn nhã, ổn định quen thuộc. Còn lại, chỉ là những chiến binh chiến đấu đến cùng để một ngày đó cũng về đích với lòng dũng cảm theo đuổi định mệnh.

Lời kết…

Cả sự nghiệp văn chương và con đường chạy bộ Murakami đều không có chủ đích làm từ trước nhưng đều rất thành công như thể đây là sứ mệnh được giao vào tay ông vậy. Cuốn sách chỉ đơn thuần là tự truyện của Murakami về việc chạy bộ, đâu đó đan xen những suy nghĩ đối với việc viết văn & sáng tạo nghệ thuật. Murakami đã rất tài tình khi có thể gắn kết những thứ thuần nghệ thuật như sáng tác văn chương với những điều giản dị đơn sơ đời thường như chạy bộ. “Murakami không đưa vào cuốn sách này nhiều chi tiết liên quan đến đời viết văn của ông, song đôi điều ông nói đến cũng đã là quý báu đối với những ai muốn hiểu rõ về sự nghiệp lâu bền và nhiều thành quả của nhà văn kiệt xuất này” – Publisher Weekly.

Murakami đã đặt tên cho cuốn sách của mình theo cảm hứng của tác phẩm “Mình nói gì khi nói về chuyện tình” (What we talk about when we talk about love) của Raymond Carver.

Cuốn sách thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống của Haruki Murakami – cuộc sống của một nhà văn và cũng của một nhà chạy bộ thứ thiệt. Cuốn sách truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều ở việc bắt đầu những thói quen và sở thích mình trì hoãn từ lâu. Murakami viết rằng “Tôi luôn làm bất cứ thứ gì mình cảm thấy thích làm trong đời”. Tôi thích Murakami vì ông có nét gì đó gần gũi với mình: thích mèo, thích chạy bộ và thích âm nhạc dù rằng chạy bộ đối với tôi chưa hẳn là sở thích mà chỉ là thói quen nên duy trì.